Tin tức

- Hoàn thành báo cáo cấp cơ sở đề tài "Nghiên cứu khả năng ứng dụng của tư liệu vệ tinh nhỏ trong lĩnh vực quản lý tài nguyên thiên nhiên, nông nghiệp, lâm nghiệp và quản lý thảm họa".
- Trung tâm Viễn thám và GIS hoàn thành bộ bản đồ hiện trạng sử dụng đất vùng đồng bằng Sông Hồng, năm 2008. Dự kiến trong năm 2010, Trung tâm sẽ hoàn thành bộ bản đồ này cho năm 2009.

GIS Cafe

Đăng ký RSS

Đăng ký nhận tin qua RSS:
Đăng ký nhận tin qua Email:
 

Trung tâm Viễn Thám & GIS

Trung tâm Viễn thám và GIS được thành lập từ năm 1990 trong thời điểm ngành công nghệ viễn thám và hệ thông tin địa lý mới được giới thiệu trên thế giới. Ngay từ những ngày đầu, Trung tâm đã đầu tư vào việc phát triển nhân lực và ứng dụng công nghệ xử lý ảnh và bản đồ số. Với hệ thống GIS đa dạng bao gồm Pamap, ILWIS, ArcInfo, SPANS và các hệ xử lý ảnh như PCI, IDRISI ngay từ những năm 1990, Trung tâm đã góp phần không nhỏ trong việc đưa công nghệ thành lập bản đồ hiện đại vào công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên nói chung và tài nguyên nông nghiệp nói riêng, phục vụ đắc lực công tác quản lý và phân vùng, quy hoạch nông nghiệp của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp...

Giới thiệu về CSDL GIS và Viễn thám

Trung tâm Viễn thám và GIS quản lý một cơ sở dữ liệu GIS và viễn thám khá đồ sộ với bộ dữ liệu số hóa (digital) thuộc các lĩnh vực như nông, lâm, ngư nghiệp, thổ nhưỡng, khí tượng thủy văn, địa hình, hành chính, giao thông... ở tỷ lệ cấp tỉnh, vùng và trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

Trung tâm đã và đang tiến hành công tác lập chỉ mục dữ liệu (metadata) cho toàn bộ dữ liệu GIS từ nhiều năm qua. Hiện tại, Trung tâm đang chuyển từ mô hình quản lý dữ liệu cũ dưới các hình thức sao lưu trên đĩa và băng từ sang cơ sở dữ liệu tập trung hoạt động trong mạng Intranet. Thông tin về chỉ mục dữ liệu sẽ được Trung tâm đăng tải trên mạng Internet để công tác quản lý và trao đổi dữ liệu được tiến hành thuận tiện. Tuy nhiên, việc truy nhập vào CSDL này để tải dữ liệu chỉ có thể được tiến hành trong mạng Intranet của Trung tâm với các tài khoản của người sử dụng do quản trị mạng cung cấp và điều hành.

Việc xây dựng và cập nhật CSDL đang trong giai đoạn tiến hành nên phần Dữ liệu của trang web chưa có thông tin chi tiết. Chúng tôi xin được thông báo và hy vọng sẽ sớm ra mắt CSDL GIS của Trung tâm trong thời gian sớm nhất.

Trong thời gian vừa qua, đề tài khoa học "Sử dụng tư liệu ảnh vệ tinh ENVISAT (MERIS, ASAR) và SPOT trong nghiên cứu biến động sử dụng đất nông nghiệp và theo dõi lúa vùng Đồng bằng Sông Hồng giai đoạn 2008-2010" đã phát triển một cơ sở dữ liệu trên mạng Internet. Đây cũng là nền tảng của cơ sở dữ liệu GIS mà Trung tâm Viễn thám & GIS tập trung phát triển trong tương lai. Thông tin về CSDL này có thể được đọc tại đây.

Quản trị mạng
Trung tâm Viễn thám và GIS




Trung Quốc ’xuất chiêu' ngoại giao vệ tinh

Cuối tháng 9, Trung Quốc đã tuyên bố sẽ xây dựng và phóng một vệ tinh thông tin mới cho Bolivia trong 3 năm tới, và ngay sau đó là tuyên bố với Lào, mặc dù lịch trình này vẫn chưa được công bố. Những quốc gia khác, bao gồm Ecuador, Myanmar, cùng 1 số nước tại châu Phi, cũng sẽ sớm được đưa vào danh sách.

Ảnh minh họa (Ảnh: bestsyndication.com)

Nhiều nhưng không chất

Giáo sư luật quốc tế Ling Yan tại Đại học Khoa học chính trị và Pháp luật Trung Quốc tại Bắc Kinh nói: “Thỏa thuận với Lào và Bolivia không phải là những thỏa thuận đầu tiên của Trung Quốc với các quốc gia đang phát triển. Trung Quốc đã từng có thỏa thuận với Nigeria và Venezuela lần lượt vào các năm 2007 và 2008. Trung Quốc đã xây dựng khả năng cung cấp vệ tinh và dịch vụ phóng vệ tinh tốt hơn sau những nỗ lực phát triển công nghệ vũ trụ trong nửa thế kỷ qua. Là 1 quốc gia đang phát triển, Trung Quốc sẵn sàng hợp tác với các quốc gia đang phát triển khác và cùng nhau hưởng lợi từ sự hợp tác này.”

Tổng thống Bolivia Evo Morales đã có mặt tại trụ sở Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU) ở Geneva chỉ 2 tuần trước khi có tuyên bố của Trung Quốc, để thảo luận những vẫn đề liên quan đến vệ tinh với giám đốc ITU Hamadoun Toure. Tuyên bố của Trung Quốc với Bolivia được đưa ra sau cuộc gặp của Morales với chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào tại Liên hợp quốc ở New York.

David Vaccaro, nhà phân tích cấp cao của Futron Corp có trụ sở tại Maryland, cho rằng Trung Quốc đang chủ động theo đuổi những thỏa thuận ở Đông Nam Á và những nơi khác. “Điều này chắc chắn phù hợp với mục tiêu của chương trình vũ trụ của Trung Quốc. Trung Quốc đang nỗ lực sử dụng vũ trụ như một công cụ ngoại giao đối với khu vực Đông Nam Á láng giềng và những nơi khác. Hơn thế nữa, Trung Quốc vẫn có những tham vọng về thương mại được tuyên bố từ lâu liên quan tới vũ trụ”.

Tuy nhiên, vấn đề chất lượng của vệ tinh thông tin Trung Quốc cũng không thể bị bỏ qua. Điển hình là việc Trung Quốc đã phải nhanh chóng xây dựng 1 vệ tinh thay thế cho vệ tinh NIGCOMSAT-1 của Nigeria do Trung Quốc sản xuất sau thất bại hồi cuối năm 2008. Vệ tinh này được phóng năm 2007 và là vệ tinh thông tin đầu tiên của Nigeria.

Ưu tiên của Trung Quốc vì thế vẫn là tham gia vào những thương vụ được công bố chỉ sau khi hoàn thành đàm phán kín với các chính phủ nước ngoài. Trung Quốc đã tránh khu vực thị trường cạnh tranh cao.

Với lý do này, tất cả những con mắt đang đổ dồn về phía Việt Nam, khi Việt Nam tuyên bố ý định sở hữu một vệ tinh thông tin thứ 2, thường được gọi là Vinasat-2. Theo Vaccaro, nhà sản xuất vệ tinh lớn của Trung Quốc - Học viện khoa học vũ trụ Trung Quốc (CAST) - hiện đã đưa ra những tin tức về Vinasats-2 trên trang web của mình, dù phía Việt Nam còn chưa cho biết ai sẽ là nhà cung cấp cho Việt Nam vệ tinh thứ 2 này.

Nếu Trung Quốc thực sự quan tâm tới thỏa thuận trên, thì nước này sẽ gặp phải sự cạnh tranh gay gắt từ một nhà cung cấp vệ tinh và nhà thầu Mỹ Lockheed Martin, công ty đã xây dựng Vinasat-1, vệ tinh thông tin đầu tiên của Việt Nam. Bên cạnh đó, còn có nhiều sự cạnh tranh từ các nhà thầu khác đến từ các quốc gia sản xuất vệ tinh của Mỹ và châu Âu. Kết quả, Trung Quốc sẽ phải đưa ra đề nghị thuyết phục đề có thể thắng hợp đồng này và những hợp đồng vệ tinh khác trong tương lai.

Tuy nhiên, sự hào phóng của Trung Quốc không còn là bí mật với những giới quan tâm tới vệ tinh. Trung Quốc tuyên bố vài tuần trước rằng sẽ xây dựng một vệ tinh thông tin mới cho Pakistan với mức giá dự tính là 212 triệu USD, trong đó 200 triệu USD chi phí sản xuất là khoản cho vay của Trung Quốc. Đây cũng là mức mà Ngân hàng Xuất Nhập khẩu Trung Quốc đã cung cấp cho Nigeria năm 2006 cho việc xây dựng vệ tinh NIGCOMSAT-1.

Cả vệ tinh của Nigeria và vệ tinh của Venezuela Venesat-1 mới được xây dựng và phóng vào cuối năm 2008, với chi phí hơn 200 triệu USD. Đó chỉ là mức giá riêng của vệ tinh, không bao gồm chi phí cho các thiết bị phóng, phóng vệ tinh và các cơ sở điều khiển ở mặt đất, có thể phải tốn thêm khoảng 100 triệu USD nữa vào tổng chi phí.

Những nhà sản xuất vệ tinh khác cũng đang rao bán những vệ tinh thông tin có thể được coi là phù hợp với túi tiền hơn đối với các chính phủ đang gặp khó khăn về tài chính, và không chịu nhiều ảnh hưởng trước chính sách đối ngoại và kinh tế của Trung Quốc. Ví dụ, Kazakhstan đã ký hợp đồng với Trung tâm vũ trụ Khrunichev có trụ sở ở Moscow xây dựng vệ tinh Kazsat-2, dự tính sẽ thay thế vệ tinh Kazsat-1 do Nga sản xuất bị mất tích hồi giữa năm 2008. Mức giá ước tính của hợp đồng này là khoảng 115 triệu USD.

Một nhà sản xuất vệ tinh khác bán những vệ tinh thông tin nhỏ hơn và có mức giá phải chăng hơn là Orbital Sciences Corp có trụ sở ở Virgina, Mỹ với những khách hàng ở Singapore, Malaysia và Australia.

Vệ tinh cũng là một công cụ ngoại giao

“Trung Quốc nhìn chung đang sử dụng sức mạnh tài chính như một công cụ ngoại giao, đặc biệt với những nước nhỏ và kém phát triển hơn.” - Patrick French, nhà phân tích nhiều kinh nghiệm và lãnh đạo văn phòng Singapore tại công ty tư vấn và nghiên cứu của hãng NSR, mang tên LLC nói. “Thêm vào đó, hiếm những nhà vận hành vệ tinh quốc tế lớn nào lại liều lĩnh mua vệ tinh Trung Quốc và sau đó bị gắn chặt với việc phóng ở Trung Quốc này cho tới khi quan hệ Trung – Mỹ tan băng.”

Một lý do nữa khiến Trung Quốc theo đuổi những thỏa thuận như thế tại các quốc gia đang phát triển là vì đơn giản nó đem lại cho Trung Quốc cơ hội để định vị lại sản phẩm vệ tinh của mình và tham gia vào lực lượng lao động công nghệ cao, trong khi lại tích lũy được những kinh nghiệm thực tế và cải thiện năng lực kỹ thuật chung.

“Khi tham gia sản xuất các phương tiện phóng, Trung Quốc hy vọng sẽ giành được một phần của thị trường vệ tinh thông tin tăng trưởng nhanh tại các nước đang phát triển. Điều này sẽ cho phép Trung Quốc cải thiện công nghệ của mình, đồng thời giúp tăng cường được mối quan hệ với các nước này,” Laurence Nardon, giám đốc chương trình chính sách vũ trụ tại Học viện Quan hệ quốc tế tại Paris nói.

Tập đoàn công nghiệp Trung Quốc Great Wall Industries Corporation (CGWIC) là nhà cung cấp độc quyền vệ tinh thông tin của Trung Quốc. CGWIC giám sát tất cả những hoạt động xuất khẩu cũng như phóng vệ tinh tại Trung Quốc. CGWIC cung cấp vệ tinh, thiết bị phóng, và các hệ thống và cơ sở điều khiển tại mặt đất.

CGWIC chỉ mới bắt đầu hoạt động xuất khẩu vệ tinh, và còn nhiều điều phải làm trước khi đạt đến khả năng ngang hàng với những nhà sản xuất vệ tinh lớn trên thế giới, bao gồm Astrium và Thales Alenia Space của châu Âu, công ty đang làm việc với Khrunichev để xây dựng vệ tinh Kazsat-2, và Information Satellite Systems Reshetnev của Nga (ISS Reshetnev) và Mitsubishi Electric của Nhật Bản.

Những tổ chức hàng đầu khác tham gia vào những dự án vệ tinh này của Trung Quốc bao gồm Học viện công nghệ thiết bị phóng Trung Quốc (CALT), nơi cung cấp thiết bị phóng Long March và công ty vệ tinh Dongfang Hong Ltd (DHF), một phần của Trung tâm ứng dụng công nghệ đăc biệt CAST tại Bắc Kinh, cung cấp tất cả các loại vệ tinh, bao gồm cả vệ tinh của Nigeria hay Venezuela DFH-4.

Nhu cầu ngày càng lớn

Trong khi tổng số những vệ tinh thông tin do Trung Quốc xây dựng chỉ chiếm 1 phần nhỏ số vệ tinh băng thông rộng hay khả năng thông tin toàn cầu, thì nhu cầu băng thông rộng tại thị trường do chính phủ kiểm soát hay thuộc sở hữu chính phủ lại đang gia tăng. Địa vị, thanh thế và niềm tự hào dân tộc gắn với vệ tinh có thể đóng một vai trò quan trọng nữa cho sự tăng nhanh nhu cầu này.

“Các nhà cung cấp vệ tinh có mức tăng trưởng hàng năm ở khoảng từ 15% đến 40%, trong khi các nhà cung cấp dịch vụ truyền thông có dây và không dây chỉ tăng trưởng từ 5% đến 10%,” Daniel Longfield, nhà phân tích về ngành công nghiệp không dây và vệ tinh ở Frost & Sullivan tại Texas nói. “Hầu hết các vệ tinh thông tin trên thế giới vẫn đang hoạt động ở gần mức khả năng cao nhất do nhu cầu vẫn rất mạnh mẽ. Bất cứ công ty hay chính phủ nào có thể có vệ tinh được phóng và hoạt động có thể tìm được khách hàng có nhu cầu băng thông rộng vệ tinh rất nhanh.”

Nhu cầu lớn đối với thông tin vệ tinh cũng có nghĩa là những quốc gia với vệ tinh mới thường ở vị trí “người làm giá chứ không phải ở trong tình thế người chấp nhận giá,” Longfield nói.

Ngoài lĩnh vực phát triển kinh tế, những thực tiễn chính trị cũng đóng vai trò quan trọng ở đây. Mặc dù đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam có tăng nhưng, theo miêu tả của Peter Evans, nhà phân tích cấp cao về châu Á tại công ty truyền thông có trụ sở tại Australia - Paul Budde Communication Pty Ltd thì cơ hội của Trung Quốc thực tế có thể bán được vệ tinh tinh cho Việt Nam là từ rất nhỏ tới không có.

Tuy nhiên, Longfield lại không đồng tình và coi Trung Quốc là ứng cử viên sáng giá ở đây, bởi Trung Quốc và Việt Nam có lợi thế từ việc “có mối liên hệ mặt thiết về chính trị, kinh tế, và quốc phòng khi đem so sánh với những đối thủ như Nhật Bản, châu Âu hay Mỹ”.

Quyết định của Protostar Ltd’s có trụ sở tại Singapore hồi tháng 6 khi tuyên bố phá sản và thực tế rằng dự án vệ tinh Ipstar nhiều tham vọng của Thái Lan đã đi đến kết quả không như mong đợi, là một lời nhắc nhở đối với những dự án vệ tinh tại châu Á rằng không phải lúc nào đầu tư vào đây cũng ngay lập tức mang lại chiến thắng. Cùng lúc đó, còn có nhiều quan điểm khác nhau về việc có quá nhiều vệ tinh ở Đông Nam Á.

Evans nói: “Việc thừa “khả năng” có vẻ không phải là vấn đề ở giai đoạn hiện nay.”

“Hiện tại, có người cho rằng đơn giản đã có quá nhiều nhà cung cấp tại khu vực,” Vaccaro nói. “Trong dài hạn, thị trường châu Á Thái Bình Dương có thể có tiềm năng phát triển nhất. Xem xét 2 khía cạnh – dân số khu vực, và tỷ lệ lựa chọn ứng dụng công nghệ – trong trường hợp này, có thể mức dư cung sẽ giảm đi trong 10 năm tới. Thực tế, đây là điều nhiều nhà đầu tư và doanh nghiệp vệ tinh đang tính đến”.

Khi Trung Quốc còn sử dụng cái “đệm” cho những thỏa thuận vệ tinh với các quốc gia đang phát triển thông qua các khoản cho vay giống như kiểu “trao tay” thì bầu trời thế giới nhiều khả năng sẽ trở nên chật chội với các vệ tinh của Trung Quốc trong những năm tới.

Theo Asia Times

Bản đồ đường giao thông Việt Nam

Hiệp hội Dữ liệu mở đường giao thông (Openstreetmap) là một trong những tổ chức phi lợi nhuận dựa trên sự đóng góp của phần lớn người sử dụng GIS và viễn thám trên toàn thế giới. Tương tự trào lưu phần mềm mã nguồn mở, Openstreetmap được sự đón nhận nồng nhiệt của đông đảo người sử dụng trên thế giới mà thể hiện là sự lớn mạnh nhanh chóng của cơ sở dữ liệu GIS do tổ chức này tạo ra.

Openstreetmap (OSM) cung cấp bản đồ trực tuyến như Google Maps hay Yahoo Maps. Ngoài ra, các lập trình viên cũng có thể tạo ra bộ bản đồ riêng của mình trên engine mã mở của OSM.

Cơ sở dữ liệu của OSM bao gồm bản đồ ranh giới hành chính quốc gia, hệ thống thủy văn và hệ thống đường giao thông khá chi tiết của hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giới. Dữ liệu cung cấp cho người sử dụng ở định dạng ShapeFile của ESRI. Ngoài ra, một số định dạng tiêu biểu khác cho thiết bị cầm tay như Garmin và Tomtom cũng được phát hành.

Trong bài viết này, RSC-NIAPP giới thiệu với các bạn bộ bản đồ đường phố của Việt Nam do OSM cung cấp. Bản đồ được lưu ở hai định dạng: Shapefile và Garmin GPS.

Tải về Shapefile | Tải về Garmin Map

Đối với Shapefile, người sử dụng chỉ việc dùng các ứng dụng như ArcView, ArcGIS, MapInfo... là có thể thao tác được. Riêng Garmin Map đòi hỏi một chút kỹ năng về thao tác chuyển đổi dữ liệu với thiết bị GPS cầm tay này. Dữ liệu sau khi được giải nén có thể chép vào thẻ nhớ của máy hoặc truyền qua dây tín hiệu kèm theo thiết bị được nối vào máy tính.

Nếu gặp khó khăn trong việc truyền dữ liệu bản đồ vào máy Garmin của mình, bạn có thể liên hệ với chúng tôi để nhận được sự giúp đỡ từ chuyên gia tư vấn kỹ thuật.

Xu hướng chia sẻ dữ liệu trong tương lai

Theo các nhà phân tích thuộc lĩnh vực Viễn thám - GIS, vấn đề đầu tư mua dữ liệu của các công ty hoặc các cơ quan trong lĩnh vực này sẽ trở nên sáng sủa hơn trong vài năm tới, khi thị trường thế giới chuyển sang mua bán và tính phí dịch vụ biên tập chứ không nhắm vào giá thành dữ liệu thô. Ngày càng có nhiều tổ chức sẵn sàng chia sẽ dữ liệu miễn phí trên mạng Internet trong những năm gần đây. Nổi bật nhất trong số này là các công ty hàng đầu của Mỹ như Google, Microsoft, Yahoo. Bên cạnh đó, việc tải dữ liệu miễn phí từ các NGO hoặc một vài công ty phân phối sản phẩm của Landsat, ASTER, MODIS, ENVISAT... cũng tạo cơ hội cho rất nhiều cá nhân, tổ chức tham gia vào lĩnh vực GIS-Viễn thám.

Dữ liệu chia sẻ trên mạng thông thường được chia ra một số dạng sau:
  • Bản đồ trực tuyến đi kèm thông tin địa điểm hoặc các thông tin thuộc tính khác: Dạng thông tin này gần như Read-only (chỉ đọc) đối với người sử dụng. Việc tái sử dụng hoặc tùy biến các thông tin dạng này là hầu như không thể.
  • Ảnh vệ tinh: Kho dữ liệu khổng lồ của Google, Yahoo, Microsoft và gần đây là Bhuvan (Ấn Độ) cung cấp cho thế giới bộ ảnh vệ tinh độ phân giải cao trên toàn cầu. Tuy nhiên, các ảnh này thường bị biến đổi sang dạng tổ hợp màu tự nhiên và đóng dấu bản quyền (watermarked). Trang web trực tuyến của những công ty trên cũng hạn chế người sử dụng tải ồ ạt ảnh của họ bằng một số phần mềm chuyên dụng. Do vậy, cũng như những thông tin kiểu bản đồ trực tuyến ở trên, các bộ ảnh này chỉ phục vụ được phần nào nhu cầu sử dụng của đám đông.
  • Bản đồ dạng vector và ảnh gốc: Đây là dạng dữ liệu được người sử dụng quan tâm nhất vì họ có thể tùy biến dữ liệu với các thao tác phân tích dữ liệu không gian hoặc biến đổi hình thức hiển thị của dữ liệu trong các phần mềm xử lý ảnh hoặc GIS. Dạng dữ liệu này thường được chia sẻ một cách lẻ tẻ do các tổ chức phi lợi nhuận hoặc tổ chức lớn đứng ra quản lý.
  • Đữ liệu đo đạc và thuộc tính: Dạng thức này cung cấp cho người sử dụng bộ dữ liệu dưới dạng bảng biểu, đôi khi gắn kèm theo tọa độ địa lý của các điểm đo.
Ngoại trừ các công ty lớn có khả năng lưu trữ và chia sẻ dữ liệu qua giao diện thân thiện với người sử dụng, đa phần dữ liệu được chia sẻ trên Internet không đạt được độ ổn định cao về đường truyền cũng như tuổi thọ của trang web. Đó là lý do hầu hết người sử dụng chỉ biết đến dữ liệu qua các công ty lớn mà thôi.

Giao thức chia sẻ dữ liệu thường gặp ở một số dạng tiêu biểu:
  • Thông qua một phần mềm chuyên dụng có khả năng kết nối với Internet: Điển hình là Google Earth, Bhuvan, Microsoft Encarta, ArcGIS, MapInfo, Quantum GIS...
  • Thông qua giao diện trình duyệt Internet: Internet Explorer, Firefox, Opera...
  • Thông qua giao thức FTP.
  • Thông qua kết nối VPN.
Nhìn chung, dưới hình thức chia sẻ thế nào đi chăng nữa thì xu hướng giảm giá thành hoặc thậm chí không tính tiền đối với nhiều loại dữ liệu đang dần trở nên rõ nét. Trong một tương lai gần, việc sản xuất dữ liệu thô sẽ tập trung vào một số công ty lớn hoạt động quy mô với nền tảng công nghệ mạnh và ổn định. Các công ty hoặc tổ chức nhỏ lẻ sẽ dần thôi việc sản xuất dữ liệu mà chuyển sang làm dịch vụ và tư vấn mua bán dữ liệu.

Xu hướng đầu tư vào phần cứng chuyên biệt để sản xuất dữ liệu như máy tính, máy đo, bàn số hóa cũng đang giảm sút. Người sử dụng đang dần quen với việc mua dữ liệu số từ các tổ chức chuyên sản xuất dữ liệu. Một khi lượng người mua tăng lên thì chắc chắn giá thành dữ liệu sẽ giảm xuống nhiều lần so với hiện nay. Bên cạnh đó, các tổ chức bán dữ liệu này sẽ phải cạnh tranh mạnh mẽ với nhiều tổ chức chia sẻ dữ liệu miễn phí khác ở bên ngoài. Cuộc chiến giá thành sẽ chuyển sang cạnh tranh chất lượng dịch vụ tìm kiếm và truyền dữ liệu. Ở thế tọa sơn quan hổ đấu, người sử dụng sẽ được hưởng lợi nhiều nhất.

Vấn đề chỉ còn là thời gian mà thôi. Trong một tương lai gần, việc mua bán bản đồ hay ảnh vệ tinh sẽ chỉ còn đơn giản như mua một món hàng trong các siêu thị bình dân như Wallmart hay Amazone.

RSC-NIAPP

Cơ sở dữ liệu GIS môi trường của UNEP

Đây là cơ sở dữ liệu GIS do UNEP thành lập với mục đích chia sẻ dữ liệu tới người sử dụng trên toàn cầu. Dữ liệu bao gồm rất nhiều hạng mục thuộc lĩnh vực môi trường. Ngoài các tập tin Shapefile (có thể đọc bằng ArcView, ArcGIS và một số phần mềm GIS khác), người sử dụng có thể tải về dữ liệu dạng bảng Excel.

Địa chỉ CSDL này như sau:


Thông tin chi tiết bằng tiếng Anh

The GEO Data Portal is the authoritative source for data sets used by UNEP and its partners in the Global Environment Outlook (GEO) report and other integrated environment assessments. Its online database holds more than 500 different variables, as national, subregional, regional and global statistics or as geospatial data sets (maps), covering themes like Freshwater, Population, Forests, Emissions, Climate, Disasters, Health and GDP. Display them on-the-fly as maps, graphs, data tables or download the data in different formats....


Dynamic and Mobile GIS: Investigating Changes in Space and Time

Dynamic and Mobile GIS: Investigating Changes in Space and Time


Consisting primarily of papers presented at the GIS Research UK Conference held at the University of Glasgow, “Dynamic and Mobile GIS: Investigating Changes in Space and Time” provides a contemporary overview of the representation, processing, visualization, and update of dynamic spatio-temporal events using the GIS environment. This book highlights innovations in technology, new ways of modeling both spatial objects and dynamic processes affecting them, and advances in visualization. Featuring contributions from established GIS workers, this text presents the current state-of-the-art in key aspects of mobile and dynamic GIS, exploring important research directions and future challenges.

Presents the current state-of-the-art in mobile GIS and the representation, processing, and visualization of dynamic events in GIS.

Considers technology, data, modeling, processing, and visualization issues with examples from case studies.

Augments introductory texts with more advanced material on new GIS environments
Addresses ethical and privacy issues from both a technological and a societal perspective
With the widespread use of PDAs, wireless internet, Internet-based GIS, and 3G and 4G telecommunications, the technology supporting mobile GIS is rapidly gaining popularity and effectiveness. Dynamic and Mobile GIS: Investigating Changes in Space and Time addresses Web GIS, mobile GIS, and the modeling, processing, and representation of dynamic events, as well as current demands to update GIS representations.

Providing a comprehensive overview of this emerging technology, this book highlights innovations, new ways of modeling both spatial objects and dynamic processes affecting them, and advances in visualization. Featuring contributions from established GIS workers, it begins with an introduction of extant technology and previews future developments. The book examines challenges to security and privacy and presents practical solutions to these problems while focusing on modeling approaches and exploring the need to display an appropriate level of information in a mobile environment. Concluding with a study of mobility, the book also contains practical examples of applications of mobile devices for disaster management and environmental monitoring.

Dynamic and Mobile GIS: Investigating Changes in Space and Time offers detailed cases of successful applications and identifies the current cutting-edge aspects of mobile and dynamic GIS. The book also looks to the future, investigating important research directions and potential challenges.

Download:
http://rapidshare.com/files/26685370/BBL.rar.html
hoặc:
http://depositfiles.com/files/781144
hoặc:

GIS for Sustainable Development

GIS for Sustainable Development

GIS for Sustainable Development by Michele Campagna
Publisher: CRC 2005-08 | 560 Pages | ISBN: 0849330513 | PDF | 12 MB

GIS for Sustainable Development examines how GIS applications can improve collaboration in decision making among those involved in promoting sustainable development. This volume reviews leading GIScience, providing an overview of research topics and applications that enable GIS newcomers and professionals to apply GIScience methods to sustainable spatial planning.

Divided into three parts, the book begins with an introduction to the issues of sustainability, focusing on concepts concerning GIS adoption and use within public organizations that are planning development. Part II focuses on GIScience methods, which can be used to support sustainable development and solve environmental problems. Part III presents research projects and best practices relating to different areas of application within the field.

This text provides the latest research findings, delivers complete references to related publications, and supplies you with a complete reference framework for each topic.

Download:
hoặc:
hoặc:

GIS and Crime Mapping

GIS and Crime Mapping

GIS and Crime Mapping
Publisher: Wiley | ISBN: 0470860995 | edition 2005 | PDF | 442 pages | 25,21 mb

The growing potential of GIS for supporting policing and crime reduction is now being recognised by a broader community. GIS can be employed at different levels to support operational policing, tactical crime mapping, detection, and wider-ranging strategic analyses. With the use of GIS for crime mapping increasing, this book provides a definitive reference.

Download:
hoặc:
hoặc:



 
Lên đầu trang Xuống cuối trang